Sức mạnh “mắt thần” E-2E vừa trở thành tội đồ của hải quân Mỹ

0
17

Được biết chiếc máy bay chỉ huy cảnh báo E-2D đã không bắt được cáp hãm đà khiến nó va chạm với những tiêm kích hạm F/A-18 Super Hornet trên tàu sân bay.

Vụ tai nạn trên được hải quân Mỹ phân loại thuộc nhóm A, tức là có thiệt hại về người hoặc gây hư hỏng với giá trị tài sản ở mức từ 2 triệu USD trở lên, thậm chí gây phá hủy hoàn toàn phương tiện.

Được biết không quân hải quân Mỹ đang tích cực sửa chữa những máy bay này, đặc biệt là chiếc E-2D.

Mỗi tàu sân bay chỉ biên chế khoảng 4 chiếc E-2D, chúng được coi là “mắt thần trên không” của hải quân Mỹ.

Sức mạnh của tàu sân bay Mỹ sẽ không thể phát huy tác dụng nếu thiếu đi máy bay E-2D Hawkeye.

E-2D đóng vai trò chỉ huy và cảnh báo cho cả phi đội gần 50 tiêm kích trên tàu sân bay.

Mọi động tĩnh của đối phương đều bị chiếc máy bay này thu thập và theo đõi, đồng thời nó đóng vai trò chỉ huy cho các loại vũ khí khác của hải quân Mỹ.

Northrop Grumman E-2 Hawkeye là dòng máy bay cảnh báo sớm (AEW) có khả năng hoạt động trên tàu sân bay và trong mọi điều kiện thời tiết.

Nguyên mẫu E-2 được Grumman phát triển từ cuối thập niên 1950 cho hải quân Mỹ, nhằm thay thế dòng E-1 Tracer đã trở nên lạc hậu vào thời điểm đó.

E-2 là mẫu máy bay đầu tiên được chế tạo riêng cho nhiệm vụ cảnh báo sớm, thay vì hoán cải khung thân phi cơ có sẵn như dòng E-3 Sentry cho không quân Mỹ.

Máy bay E-2 dài 17,6 m, sải cánh 24,6 m và cao 5,6 m, phần cánh có thể gấp gọn để tiết kiệm diện tích, phù hợp với không gian chật hẹp trên tàu sân bay.

Máy bay có khối lượng rỗng 18 tấn và khối lượng cất cánh tối đa khoảng 26 tấn.

E-2 đạt tốc độ hành trình 475 km/h, tầm bay tối đa 2.700 km.

Máy bay có thể hoạt động liên tục 6 tiếng trên không.

Nhiệm vụ chính của E-2 là nhận dạng, cảnh báo các mối nguy hiểm trên không cho nhóm tác chiến tàu sân bay, sau đó dẫn đường cho các tiêm kích trên hạm như F/A-18 Hornet hay F/A-18 Super Hornet thực hiện nhiệm vụ đánh chặn.

Ngoài ra chúng còn có khả năng dẫn đường và truyền tín hiệu cho máy bay tàng hình F-35B và F-35C chuyên hoạt động trên tàu sân bay.

Được biết các loại máy bay chiến đấu thế hệ thứ 5 thường sử dụng thuật tín hiệu riêng biệt để tránh bị đối phương phát hiện. Vì vậy các phiên bản của máy bay E-2 phải trang bị bộ thu phát đặc biệt cho nhiệm vụ liên lạc này.

Các máy bay E-2 cũng có thể chỉ huy và kiểm soát hoạt động không chiến, do thám, dẫn đường cho lực lượng tìm kiếm cứu nạn và chuyển tiếp thông tin liên lạc.

Độ cao hành trình 7.600 m cho phép mỗi chiếc Hawkeye bao phủ khu vực có bán kính khoảng 300 km, cũng như phát hiện mục tiêu bay sát mặt biển ở ngoài đường chân trời như tiêm kích và tên lửa chống hạm đối phương.

Những mục tiêu ở ngoài đường chân trời vốn ngoài khả năng phát hiện của radar trên tàu chiến trong biên đội, chỉ duy có máy bay E-2 mới có thể phát hiện ra mục tiêu

Tổ lái Hawkeye có 5 người, gồm hai phi công ngồi trong khoang lái phía trước, sĩ quan kiểm soát thông tin tác chiến, chuyên viên điều khiển không lưu và sĩ quan vận hành radar ở khoang sau.

Khung thân làm bằng kim loại nhẹ và được gia cố để phù hợp với hoạt động trên tàu sân bay, trong khi một phần cánh đuôi chế tạo từ vật liệu composite nhằm giảm tín hiệu phản xạ radar.

Càng trước máy bay có thanh kéo để nối với máy phóng của tàu sân bay, còn phía sau lắp móc hãm hình chữ A và đệm đuôi phòng trường hợp va chạm với sàn đáp của hàng không mẫu hạm.

Điểm nổi bật nhất của dòng Hawkeye là đài radar tròn có đường kính 7,3 m phía trên thân, bên trong là tổ hợp radar cảnh giới AN/APS-145 và hệ thống nhận diện địch – ta (IFF) OL-483/AP.

Mỗi hệ thống AN/APS-145 có khả năng phát hiện 2.000 mục tiêu và bám bắt 40 mục tiêu cùng lúc ở khoảng cách trên 300 km.

Hải quân Mỹ cho biết radar này cũng có khả năng kháng nhiễu địa vật và các biện pháp tác chiến điện tử của đối phương.

Ngoài hệ thống radar, những chiếc E-2 cũng được trang bị nhiều tổ hợp thông tin vô tuyến và đường truyền dữ liệu, nhằm đơn giản hóa quá trình vận hành, cũng như kết nối và truyền tham số mục tiêu cho các tiêm kích và phi cơ tác chiến điện tử trong không đoàn tàu sân bay.

Các biến thể Hawkeye liên tục được chế tạo từ năm 1960, biến nó trở thành dòng phi cơ trên hạm có dây chuyền sản xuất kéo dài nhất lịch sử Mỹ.

Grumman tới nay đã sản xuất hơn 210 chiếc E-2 cho hải quân Mỹ và các đồng minh như Ai Cập, Pháp, Israel, Nhật Bản, Mexico, Singapore…

Phiên bản cải tiến Block II xuất hiện năm 1992 với nhiều thay đổi ở động cơ và radar, trong khi bản E-2D mới sản xuất hàng loạt từ năm 2013 để thay thế dần E-2C, nhằm duy trì những “con mắt thần” cho nhóm tác chiến tàu sân bay Mỹ trong quá trình hoạt động.

Theo An Ninh Thủ Đô

Leave a Reply

avatar
  Theo dõi  
Thông báo