Lương bổng và đời sống tinh thần quan chức Triều Nguyễn

11
311

Một trong những nguyên nhân cho sự tồn tại gần một thế kỷ rưỡi ᴄủᴀ triều Nguyễn là chính sách dùng người hiệu quả. Có thể chia làm 3 phần chính: tuyển chọn nhân tài qua con đường tiến cử và khoa cử, đãi ngộ thích đáng về vật chất và tinh thần, thưởng phạt ɴɢʜɪêm minh.

Khi đã tạo dựng được một đội ngũ những người có tài năng trên các lĩnh vực khác nhau, để sử dụng hiệu quả và phát huy đến mức cao nhất, triều đình Nguyễn đã ban hành hàng loạt chính sách liên quan, mà trong đó quan trọng bậc nhất là chế độ đãi ngộ, xét ở cả hai khía cạnh vật chất và tinh thần.

I. VẬT CHẤT

Nhìn chung các triều đại ᴄủᴀ họ Nguyễn đều có thái độ ưu đãi với bộ máy quan lại từ trung ương đến địa phương, nhất là quan lại cao cấp. Vào cuối thời Gia Long đến đầu thời Minh Mệnh, mức lương hàng năm ᴄủᴀ một viên quan hàm chánh nhất phẩm là 600 quan tiền và 600 phương gạo (một phương bằng 1/2 hộc, một hộc gồm 26 thăng, một thăng tương đương 2,2 kg). Quan tòng nhị phẩm (tức Thượng thư Lục Bộ) được lĩnh 156 quan tiền và 156 phương gạo. Quan tòng bát phẩm (ở các tỉnh, phủ huyện) lĩnh 18 quan tiền và 18 phương gạo mỗi năm.

1 quan bằng 600 đồng tiền cổ thời Nguyễn.

Để so sánh mức sống, có thể lấy giá thóc ở nước ta khi đó làm mốc:

  • Khu vực từ Nghệ An trở ra Bắc, giá 1 hộc to thóc tính theo ba thời kỳ (Gia Long, Minh mệnh, Tự Đức) lần lượt là 1 quan; 1,6 quan; 3 quan tiền (hộc thóc to ở đây khoảng 57 kg, một hộc gồm 26 thăng, một thăng tương đương 2,2 kg thóc)
  • Khu vực từ Quảng Bình trở vào đến Nam Trung Bộ, giá 1 hộc thóc to tính theo ba thời kỳ nói trên lần lượt là 0,9 quan; 1,4 quan; 3 quan.
  • Khu vực Nam Bộ, giá một hộc thóc to tính theo ba thời kỳ nói trên lần lượt là 0,5 quan; 0,85 quan và 1,8 quan tiền.

Như vậy, nếu quy tiền lương ra thóc, thì thời Gia Long tính lương quan lại như sau:

  • Quan chánh nhất phẩm lĩnh 34 tấn thóc (nếu nhậm chức từ Nghệ An trở ra Bắc), 37 tấn (nếu nhậm chức từ Quảng Bình trở vào đến Nam Trung Bộ) và 68 tấn (nếu nhậm chức ở Nam Bộ).
  • Quan tòng nhị phẩm lĩnh 9 tấn thóc (nếu nhậm chức từ Nghệ An trở ra Bắc), 9,5 tấn (từ Quảng Bình trở vào đến Nam Trung Bộ) và 18 tấn (Nam Bộ).
  • Quan bát phẩm lĩnh 0,5 tấn thóc (nếu nhậm chức từ Nghệ An trở ra Bắc), gần 0,6 tấn (từ Quảng Bình trở vào đến Nam Trung Bộ) và 1 tấn (Nam Bộ).
Hộc thóc gạo loại nhỏ bằng gỗ ở Khánh Hòa, kích thước 26x 26 cm, bên ngoài đóng 2 thanh gỗ làm tay cầm. Loại hộc nhỏ 9kg này được dùng từ đầu thế kỷ 19 đến tận cuối thời kỳ bao cấp.

Đây là tiền mặt quy thóc, chưa tính số gạo họ được lĩnh. Sự chênh lệch thể hiện rất rõ ưu đãi ᴄủᴀ triều đình Nguyễn đối với quan lại cao cấp.

Ngoài tiền và gạo, quan văn và quan võ thời Nguyễn còn được hưởng lợi qua chế độ quân điền và lương điền:

  • Quân điền là chế độ phân phối ruộng đất công ở các làng xã, ban hành lần đầu tiên năm 1804. Theo đó quan văn, võ từ nhất phẩm đến tòng cửu phẩm được chia ruộng từ 18 phần đến 8 phần, binh lính các hạng từ 7-7,5 phần. Trong khi đó dân đinh cao nhất cũng chỉ được 6,5 phần mà thôi. Đến thời Minh Mệnh, do kiến nghị ᴄủᴀ nhiều quan lại, nhà vua mới giảm phần ruộng chia ᴄủᴀ tất cả xuống bằng dân đinh.
  • Lương điền (ruộng lương) ban hành lần đầu tiên năm 1806 và mở rộng năm 1809 tùy theo cấp bậc, ví dụ cấm binh được chia 1 mẫu ruộng, tòng cấm binh và tinh binh được chia 9 sào, tòng tinh binh 8 sào…..

Ngay cả người đi học cũng có lương, sinh viên Quốc Tử Giám ở kinh đô Huế được cấp mỗi tháng 4 quan tiền, 3 phương gạo và 5 cân dầu. Nếu thi khảo hạch cuối kỳ mà lĩnh hạng ưu hai khóa liên tục, thì được tăng thêm 1 quan tiền và 2 phương gạo hàng tháng.

II. TINH THẦN

Năm 1807, Gia Long định lệ cấp mộ phu cho các công thần khi ᴄʜếᴛ. Trước đó 1 năm, triều đình đã định lệ cấp tiền tuất như sau:

  • Chánh nhất phẩm 400 quan
  • Tòng nhất phẩm 300 quan
  • Chánh nhị phẩm 200 quan
  • Tòng nhị phẩm 100 quan
  • Chánh tòng cửu phẩm 5 quan
  • Lính và thợ ở các công sở 3 quan

Việc ᴛᴀɴɢ ʟễ ᴄủᴀ các quan lại cũng rất được chú ý. Thời Minh Mệnh, quan hàm chánh phẩm ǫᴜᴀ đờɪ phải có 300 lính và 6 suất đội đi đưa đám; con số này giảm dần đến hàm cửu phẩm.

Không chỉ bản thân quan lại mà cha mẹ vợ con họ cũng được phong ban phẩm cấp. Năm 1826, triều đình quy định cha mẹ quan lại được phong phẩm hàm theo con cái nhưng kém con hai cấp. Từ đây, người thân quan võ hàm chánh tòng nhất phẩm được phong tặng đến ba đời, chánh tòng nhị phẩm 2 đời, chánh tòng tam phẩm phong tặng 1 đời.

Thượng thư Bộ học Cao Xuân Dục, quanTổng đốc Hà Nội, Hải Dương, Thái Bình năm 1907

Còn đối với quan văn, bố đẻ quan hàm chánh nhất phẩm được phong hàm thượng thư, mẹ đẻ phong chánh nhị phẩm phu nhân, ông được phong là thiên phủ sự thiêm sự, bà phong chánh tam phẩm thục nhân.

Năm 1847, vua Thiệu Trị định lệ cho con cháu quan viên được tập ấm. Năm 1847, nhà vua lại chuẩn định việc phong ấp cho các quan lại theo thứ bậc: công, hầu, bá, tử , nam. Kiểu phong ấp thời Nguyễn khác thời Lý, Trần ở chỗ nó không có ý nghĩa kinh tế (thời Lý Trần, quan có quyền thu tô thuế trên ruộng đất mà mình được phong). Thời Nguyễn, người được phong tước công thì chỉ được lấy tên phủ nơi mình được phong làm đầu tên mà thôi, cứ như thế, tước hầu thì lấy tên huyện (ví dụ ấp phong ở huyện Phù Ly thì được gọi là Phù Ly hầu), tước bá lấy tên tổng, tước tử lấy tên xã, tước nam lấy tên thôn.

Tham khảo: “Chế độ ruộng đất – kinh tế nông ɴɢʜɪệp Việt Nam nửa đầu thế kỷ 19”, Vũ Văn Quân, luận án Phó ᴛɪếɴ sĩ sử học, 1991.

Theo dõi
Thông báo
guest
11 Comments
cũ nhất
mới nhất nhiều bình chọn
Inline Feedbacks
View all comments
Hùng Ngô
Hùng Ngô
1 year ago

ghét nhà Nguyễn cực

Daniel Hoang
Daniel Hoang
1 year ago

nát từ thời lập quốc cho đến khi mất nước @@@

Thai To Minh
Thai To Minh
1 year ago

Nhà nguyễn hèn với giặc ác với dân

Vy Trần
Vy Trần
1 year ago

có 1 sự thật sao cứ những đời vua đầu thì chăm lo việc nước cứ những vùa cuối cùng lại ăn chơi ko lo việc nước nhỉ

Trần Quốc Minh
Trần Quốc Minh
1 year ago

Cái triều nhục nhã
Đáng lẽ ko tồn tại trên đời

Siro Dm Khoa
Siro Dm Khoa
1 year ago

Mình có đọc qua , bị lấn cấn chổ thóc với gạo , 1kg thóc xay ra còn 7 lạng gạo thôi , chổ thì viết gạo , chổ ghi thóc , chẳng biết là đc nhận gạo hay thóc.

Hao Anh
Hao Anh
1 year ago

bởi vậy sau này ông Tây nào đó đã viết” nguoi72 dân đã chào đón Ánh như 1 vị anh hùng vì đã giúp họ thoát khỏi nhà Tây Sơn nhưng sau đó đã quay sang chữi rủa ông ta mỗi ngày vì thuế tăng gấp 2 lần”

Hưng Nguyễn
Hưng Nguyễn
1 year ago

Triều đại thối nát thì sẽ có loạn thôi

Linh Dt
Linh Dt
1 year ago

vụ bạo loạn như của Lê Duy Phụng kéo dài 5 năm, gây tổn thất lớn cho nhà Nguyễn giúp Pháp dễ dàng đặt ách đô hộ hơn. Mà Lê Duy Phụng tên thật là Phêrô Tạ Văn Phụng, chú ý nhé “Phêrô” Tạ Văn Phụng, cái tên nói lên nhiều điều có tính thời sự đến tận ngày nay đấy

Tuan Le
Tuan Le
1 year ago

Các chúa Nguyễn thực có công sức mở mang bờ cõi. Thời các vua triều Nguyễn cũng có những bậc anh minh, yêu nước và ko nhu nhược. Nhưng các vị vua triều Nguyễn còn lại đã “đóng góp “một phần rất quan trọng trong việc Pháp xâm chiếm nước ta. Nguyễn Ánh là vị vua sáng lập ra triều Nguyễn nhưng là kẻ tàn độc, vô nhân tính nhất mà tôi dc biết trong lịch sử. Mượn quân nước ngoài để diệt nhà Tây Sơn đang suy yếu ( khi nhà Tây Sơn đã đánh nam dẹp bắc, bình… Read more »

Minh Hoàng Lê
Minh Hoàng Lê
1 year ago

ưu đãi cao như thế cùng thực hiện chế độ lưu quan giúp nhà Nguyễn tăng cường kiểm soát địa phương, hạn chế cát cứ nhưng do chính sách thuế khóa nặng nề nên dân vẫn cứ nổi loạn như thường?