Bàn về lỗi sai trong bài viết “Nội cung Triều Nguyễn: Từ danh phận đến địa vị”

15
69

BÀN VỀ LỖI SAI TRONG BÀI VIẾT [NỘI CUNG TRIỀU NGUYỄN: TỪ DANH PHẬN ĐẾN ĐỊA VỊ] ᴄủᴀ PAGE THIÊN NAM LỊCH ĐẠI HẬU PHI

————————-




1. Tác giả đã phạm một số lỗi ɴɢʜɪêm trọng khi viết về vua Gia Long: “Năm 1802, Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi Vương, định đô tại Phú Xuân (Huế) và cải quốc hiệu tʜàɴʜ ᴠɪệt Nam, lấy niên hiệu là Gia Long.”

Chỉ trong một một câu mà tác giả đã phạm đến hai lỗi lớn.

• Thứ nhất, Nguyễn Ánh không hề lên ngôi vương vào năm 1802.

* Đệ nhất kỷ- Quyển XVII – Thực lục về Thế tổ cao hoàng đế:
“Nhâm tuất, năm Gia Long thứ 1 [1802], mùa hạ, tháng 5, ngày mồng 1 Canh ngọ, lập đàn ở đồng An Ninh hợp tế trời đất cáo về việc đặt niên hiệu. Ngày Tân mùi, kính cáo vong linh liệt thánh [tổ tiên]. Làm lễ xong, vua ngự ở điện, nhận lễ chầu mừng. Đặt niên hiệu là Gia Long, đại xá cho cả nước. Chiếu rằng : “Ta nghe kinh Xuân thu trọng nghĩa nhất thống là để chính danh nghĩa khi mở đầu. Từ Tiên Thái vương ta dựng nền ở miền Nam, thần truyền thánh nối đã 200 năm. Gần đây Tây Sơn nổi loạn, vận nhà Lê đã hết, hơn vài mươi năm trong nước không có chính thống. Ta phải xiêu dạt một nơi, rất lo nghĩ về miếu xã và sinh dân. Nằm gai nếm mật, mong sao cho được yên vui. NĂM CANH TÝ ta mới ở thành Gia Định, được các tướng sĩ suy tôn, ĐÃ LÊN NGÔI VƯƠNG để giữ lòng người.”

Như vậy, Nguyễn Ánh lên ngôi vương từ năm Canh Tý (1780), trước thời gian mà TNLĐHP nêu đến 22 năm.

• Thứ 2, Nguyễn Ánh không hề cải quốc hiệu tʜàɴʜ ᴠɪệt Nam vào năm 1802. Việc ấy thực tế diễn ra vào năm 1804 (năm Gia Long thứ 4).

* Thực lục quyển XIX, Nhâm Tuất năm Gia Long thứ 1 (1802) chép việc cử sứ đi Thanh:

“Lấy Tham tri Binh bộ là Lê Quang Định làm Thượng thư Binh bộ sung Chánh sứ sang nước Thanh, Thiêm sự Lại bộ là Lê Chính Lộ và Đông các học sĩ là Nguyễn Gia Cát sung Giáp ất phó sứ […] Vua hạ lệnh cho bọn Quang Định đem quốc thư và phẩm vật (kỳ nam 2 cân, ngà voi 2 cặp, sừng tê 4 tòa, trầm hương 100 cân, tốc hương 200 cân và trừu, the, vải đều 200 tấm) đi xin phong và xin đổi quốc hiệu làm NAM VIỆT.”

* Thực lục quyển XXIII, Giáp Tý năm Gia Long thứ 3 (1804) cho ta biết cuộc xin đổi quốc hiệu này kéo dài hơn một năm (từ tháng 11 năm 1802 đến tháng giêng năm 1804) và diễn biến ᴄủᴀ việc ấy như sau:

“Giáp tý, Gia Long năm thứ 3 [1804] (Thanh triều Gia Khánh năm thứ 9), mùa xuân, tháng giêng, vua ở hành cung thành Thăng Long.

Sứ nhà Thanh là án sát Quảng Tây Tề Bố Sâm đến cửa Nam Quan. Trước là người Thanh bị Nguyễn Văn Huệ đáɴʜ thua, vẫn sợ thế giặc Tây Sơn là mạnh. Kịp khi nghe quân ta dẹp giặc, đáɴʜ đâu được đấy, lấy làm kinh dị […] Khi việc xong, vua lại sai bọn Lê Quang Định sang xin phong và xin đổi quốc hiệu (năm 1802, đã dẫn ở mục trên) […] Vua Thanh trước cho rằng chữ Nam Việt giống chữ Đông Tây Việt nên không muốn cho. Vua hai ba lần phục thư để biện giải, lại nói nếu vua Thanh không cho thì không chịu phong. Vua Thanh sợ mất lòng nước ta, mới dùng chữ Việt Nam để đặt tên nước […] Đến đây vua Thanh sai Bố Sâm đem cáo sắc và quốc ấn đến phong, lại cho gấm đoạn và đồ khí mãnh.”

* Quyển này cũng chứng minh vua Gia Long đổi quốc hiệu Việt Nam vào năm 1804:

“Tháng 2, ngày Mậu thìn, xa giá đến Kinh sư. Ngày Quý dậu vua yết Thái miếu. Lễ xong, đến Từ cung mừng thăm.
ĐẶT QUỐC HIỆU LÀ VIỆT NAM. Ngày Đinh sửu, đem việc cáo Thái miếu. Lễ xong vua ngự ở điện nhận lễ chầu mừng. Xuống chiếu bố cáo trong ngoài. Chiếu rằng: “Đế vương dựng nước, trước phải trọng quốc hiệu để tỏ rõ nhất thống. Xét từ các đấng tiên thánh vương ta xây nền dấy ɴɢʜɪệp, mở đất Viêm bang, gồm cả đất đai từ Việt Thường về Nam, nhân đó lấy chữ Việt mà đặt tên nước. Hơn 200 năm, nối hòa thêm sáng, vững được nền thần thánh dõi truyền, giữ được vận trong ngoài yên lặng. Chợt đến giữa chừng, vận nước khó khăn, ta lấy mình nhỏ, lo dẹp giặc loạn, nên nay nhờ được Phước lớn, nối được ɴɢʜɪệp xưa, bờ cõi Giao Nam, đều vào bản tịch. Sau nghĩ tới mưu văn công võ, ở ngôi chính, chịu mệnh mới, nên định lấy ngày 17 tháng 2 năm nay, kính cáo Thái miếu, cải chính quốc hiệu là Việt Nam, để dựng nền lớn, truyền lâu xa. Phàm công việc nước ta việc gì quan hệ đến quốc hiệu và thư từ báo cáo với nước ngoài, đều lấy Việt Nam làm tên nước, không được quen xưng hiệu cũ là An Nam nữa”. Lại hạ chiếu báo các nước Xiêm La, Lữ Tống và các thuộc quốc Chân Lạp, Vạn Tượng, khiến đều biết cả.”

————————-

2. Mở đầu bài đăng, tác giả viết: “Quy chế nội cung nhà Nguyễn trải qua hai đợt thay đổi lớn, lần đầu tiên diễn ra dưới triều Thế Tổ Hoàng đế (Gia Long), lần thứ hai và là lần quan trọng nhất diễn ra dưới thời Thánh Tổ Hoàng đế (Minh Mạng). Các đời sau đều có thay đổi chút ít về danh xưng, phong hiệu song về cơ bản vẫn tuân thủ thứ bậc được đặt ra dưới triều Minh Mạng.” (Hình 1). Ở đây, hẳn tác giả đang muốn ám chỉ vua Gia Long và vua Minh Mạng đã đặt ra những quy chế mới cho hậu cung nhà Nguyễn, dẫn đến hai đợt thay đổi lớn.

– Phía dưới, bài đăng lại có đoạn: “Dưới triều Gia Long, Hoàng hậu là ngôi chính thất, có vị trí cao nhất, cai quản nội cung ᴄủᴀ Hoàng đế. Dưới Hoàng hậu, xếp từ cao xuống thấp lần lượt là:

– Tam phi: Quý phi, Minh phi, Kính phi;
– Tam tu: Tu ɴɢʜɪ, Tu dung, Tu viên;
– Cửu tần: Quý tần, Hiền tần, Trang tần, Đức tần, Thục tận, Huệ tần, Lệ tần, An tần, Hòa tần;
– Tam chiêu: Chiêu ɴɢʜɪ, Chiêu dung, Chiêu viên;
– Tam sung: Sung ɴɢʜɪ, Sung dung, Sung viên;
– Lục chức: Tiệp dư, Dung hoa, ɴɢʜɪ nhân, Tài nhân, Linh nhân, Lương nhân.

Chế độ nội cung dưới triều Gia Long có sự THAM KHẢO điển chế thời Minh và Lê sơ nhưng có những SỬA ĐỔI khá bất hợp lí về thứ tự.

Gia Long cho giữ lại bậc Tam phi: Quý phi – Minh phi – Kính phi tương tự quy chế đặt ra từ thời Lê Thánh Tông. […] thì đến thời Gia Long, ông QUY ĐỊNH LẠI thứ tự cao nhất là Tam tu, sau đó là Tam chiêu rồi mới tới Tam sung. Không những thế, ông còn ĐẶT RA thêm Cửu tần chen giữa Tam tu với Tam chiêu – Tam sung một cách khó hiểu. Bậc Cửu tần được ĐẶT THÊM có sự mô phỏng nhà Minh khá rõ….” (Hình 2). Vậy thì đây chính là sự thay đổi hậu cung lớn dưới thời vua Gia Long mà TNLĐHP đã đề cập ở đoạn đầu bài.

• Do thấy được sự liên hệ giữa hai nội dung trên, chúng tôi sẽ cùng phản biện cả hai trong mục này.

Tác giả bài viết đã ngộ nhận rằng Gia Long tự mình “tham khảo điển chế thời Minh và Lê sơ” rồi tự “sửa đổi” bằng cách “quy định lại”, “đặt ra”, “đặt thêm” thứ bậc.

Theo chúng tôi tìm hiểu, chế độ hậu cung với tam phi, tam tu… được chép lại trong “Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ” quyển 76, nhưng vốn không nói rõ chế độ đó được định lần đầu vào năm nào, dưới triều vua nào. Vậy thì dựa vào đâu để quả quyết rằng đó là chế độ mà Gia Long định ra?

* Đào sâu hơn vấn đề này, nguyên văn trong “Hội điển” ghi: “QUỐC SƠ lệ định cung giai….”, sau đó liệt kê các bậc tam phi, tam tu,… (Hình 3). Ở đây, cụm từ “quốc sơ” rất đáng chú ý. Ở phần “Phàm lệ” ᴄủᴀ “Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ” có ghi “hệ sự tại Gia Long sơ nguyên chi tiền giả các dĩ QUỐC SƠ lệ khởi thư dụng” (係事在嘉隆初元之前者各以國初例起書用) tức “việc trước năm Gia Long thứ nhất thì chép theo lệ thời QUỐC SƠ”, cho thấy “quốc sơ” ở đây chỉ thời gian trước khi Gia Long đăng cơ (Hình 4).

Ngoài ra, “Đại Nam thực lục đệ nhất kỷ” phần “Phàm lệ” có ghi: “Thời QUỐC SƠ niên kỷ dùng niên hiệu nhà Lê” (Hình 5) càng chứng tỏ cụm từ “quốc sơ” ở đây chỉ thời các chúa Nguyễn, không phải sau khi Gia Long đăng cơ. Căn cứ theo đó thì rõ ràng chế độ hậu cung với các bậc Tam phi, Tam tu, Cửu tần,… mà TNLĐHP đưa ra ở trên đã có từ thời QUỐC SƠ, tức là khoảng thời gian tính từ thời các chúa Nguyễn cho đến khi Gia Long lên ngôi năm 1806.

Vậy, kết luận ᴄủᴀ Thiên Nam là rất vội vàng và thiếu cơ sở sử liệu vững chắc.

————————-

3. Một điểm sai nổi bật ở phần này chính là những dòng nói về hậu cung triều Minh. TNLĐHP ghi rằng:

“Bậc Cửu tần được đặt thêm có sự mô phỏng nhà Minh khá rõ, cụ thể là quy chế đặt ra từ thời Minh Thế Tông (Gia Tĩnh thứ 10 tức 1531) dựa theo lệ cổ đặt Đức tần, Hiền tần, Trang tần, Lệ tần, Huệ tần, An tần, Hòa tần , Hy tần, Khang tần làm bậc Cửu tần, địa vị chỉ dưới bậc Phi.”

• Thứ nhất, Minh Thế Tông không chắc đã dựa theo lệ cổ để đặt ra bậc cửu tần cố định với các phong hào được TNLĐHP nêu ra như trên.

* Minh sử, Liệt truyện đệ nhị: (link 1.1 phần bình luận)

“Hiếu Liệt hoàng hậu Phương thị, hoàng hậu thứ ba ᴄủᴀ Thế Tông, người Giang Ninh. Khi ấy đế đăng cơ đã mười năm mà vẫn chưa có con trai. Đại học sĩ Trương Phu Kính mới bèn tâu: “Thời cổ, thiên tử lập hậu, cũng kiến lục cung, tam phi, cửu tần, hai mươi bảy thế phụ, tám mươi mốt ngự thê, nhờ thế mà con cái phồn thịnh. Bệ hạ đang ᴛᴜổɪ tráng niên, thỉnh nên tuyển chọn thục nữ để giúp cho việc ѕιин cσи nối dõi.” Đế nghe theo. Tháng ba năm Gia Tĩnh thứ 10, hậu cùng với Trịnh thị, Vương thị, Diêm thị, Vi thị, Thẩm thị, Lư thị, Thẩm thị, Đỗ thị cùng được sách phong, tức là cửu tần.”

(孝烈皇后方氏,世宗第三后也,江寧人。帝即位且十年,未有子。大學士張孚敬言:“古者天子立后,併建六宮、三伕人、九嬪、二十七世婦、八十一禦妻,所以廣嗣也。陛下春鞦鼎盛,宜博求淑女,為子嗣計。”從之。十年三月,后與鄭氏、王氏、閻氏、韋氏、沈氏、盧氏、沈氏、杜氏同冊為九嬪)

Ở đây, Minh Thế Tông đã noi theo cổ nhân trong việc tuyển thêm phi tần để cầu có con nối dõi. Các thứ bậc hậu cung thời cổ được kể ra như hậu, phi, tần, thế phụ, ngự thê là nhằm mục đích minh hoạ cho việc có nhiều thục nữ để được con nối dõi, không có gì chắc chắn vua Minh dựa theo đó mà lập ra chín chức tần trên.

• Thứ hai, không có quy chế nào nói bậc tần chỉ gồm các phong hào cố định như Đức tần, Hiền tần, Trang tần, Lệ tần, Huệ tần, An tần, Hòa tần , Hy tần, Khang tần, thể hiện qua việc sử sách nhà Minh có ghi chép lại những tần vị khác được Minh Thế Tông sách phong như dưới đây.

* Minh Thế Tông thực lục chép việc Gia Tĩnh năm thứ 14, phong Tào thị làm Đoan tần: (link 1.2 phần bình luận)

“Gia Tĩnh thập tứ niên thập nhất nguyệt thập nhất nhật sách phong Cẩm y vệ Thiên hộ Tào Tế nữ Tào thị vi Đoan tần.”

(嘉靖十四年十一月十一日冊封錦衣衛副韆戶曹濟女曹氏為耑嬪)

* Minh Thế Tông thực lục chép việc Gia Tĩnh năm thứ 15, phong Chiêu tần, Kính tần, Tĩnh tần: (link 1.3 phần bình luận)

“Gia Tĩnh thập ngũ niên nhị nguyệt nhị thập lục nhật sách phong Cẩm y vệ Chính thiên hộ Vương Long nữ Vương thị vi Chiêu tần, Lý Củng Thần nữ Lý thị vi Kính tần, Vương Toản nữ Vương thị vi Tĩnh tần.”

(嘉靖十五年二月二十六日冊封錦衣衛正韆戶王隆女王氏為昭嬪李拱臣女李氏為敬嬪王瓚女王氏為靜嬪)

————————-

Cuối cùng, chúng tôi muốn nhắc đến lời nhận xét ᴄủᴀ page TNLĐHP về chế độ hậu cung này. Page cho rằng quy chế hậu cung Nguyễn sơ có những thay đổi “bất hợp lý”. Tuy nhiên thứ bậc hậu cung vốn là thứ không có một chuẩn mực nhất định, không chỉ ở Việt Nam mà hậu cung ᴄủᴀ ᴛʀᴜɴɢ͛ ǫʋốc͛, Triều Tiên lẫn Nhật Bản đều có sự khác biệt, không rõ page TNLĐHP dựa vào khuôn thước nào để so sánh rồi tự kết luận chế độ hậu cung thời Nguyễn sơ là “bất hợp lý”?

————————-

Như mọi khi, bạn đọc có thể phản hồi bài viết ở phần bình luận phía dưới. Tuy nhiên, chúng tôi chỉ xem xét phản hồi những bình luận nằm trong khuôn khổ bài viết là bàn về những thông tin sai lầm về lịch sử mà TNLĐHP đưa ra trong bài viết ᴄủᴀ mình. Những bình luận lạc đề hoặc có lời lẽ khiếm nhã, công kích cá nhân, chúng tôi xin kiếu không phản hồi và хử ʟý thẳng tay. Cảm ơn bạn đọc đã để tâm theo dõi!

Post ngày: 2019-07-03 20:01:46Lượt like: 190Lượt share: 30
Nguồn: Fanpage Phòng Chống Nạn Xào Nấu Sử

Theo dõi
Thông báo
guest
15 Comments
cũ nhất
mới nhất nhiều bình chọn
Inline Feedbacks
View all comments
Sam
Sam
1 year ago

Đó là lý do mình chưa bao giờ like cái trang xàm sứa đó

Dương Thành Vương
Dương Thành Vương
1 year ago

Cảm giác như đang xem Content Cop: “What we do here is go back back back…”

Trần Tiến Đạt
Trần Tiến Đạt
1 year ago

Vậy là vua có 27 vợ à…..

Chi Duong
Chi Duong
1 year ago

Thuy Anh Nguyen Duc Tuan Ngo Nguyễn Ánh ko lên ngôi năm 1802 nani là sao ?! 😀

Minh Tuấn
Minh Tuấn
1 year ago

Mong chờ thêm sự phản biện từ phía Thiên Nam

Đoàn Quang Minh
Đoàn Quang Minh
1 year ago

Phạm Thủy Tiên chuyên mục bóc phốt :))

Nguyễn Trần Dương Thương
Nguyễn Trần Dương Thương
1 year ago

các page cứ chiến nhau thế này làm em sợ 🙁

Minh Ngọc
Minh Ngọc
1 year ago

Na Ma vô đọc coi có đáng hóng drama ko

Ngọc
Ngọc
1 year ago

Thanh Nga à đây này, bài hôm trc t đọc nhưng tự dưng bị bay mất

Song Thanh Nguyen
Song Thanh Nguyen
1 year ago

Mình mong bên Thiên Nam phản biện. Còn phim thì mình vẫn ủng hộ. 2 chuyện này khác nhau, hy vọng mọi người hiểu rõ.

Chanh Meo
Chanh Meo
1 year ago

M có thắc mắc là, nếu như những tư liệu này không khó để tìm đọc và có nguồn gốc đã được chứng minh, thì vì sao TNLĐHP lại không biết và những ttin họ đưa ra là lấy từ nguồn nào nhỉ ??

Nguyễn Tiến Kiên
Nguyễn Tiến Kiên
1 year ago

Thk so much

Thục Linh
Thục Linh
1 year ago

Chính xác là GL lên ngôi Vương năm Canh Tý 1780. M học chuyên ngành Sử nên chắc chắc điều page nói là đúng.

Phòng Chống Nạn Xào Nấu Sử
Phòng Chống Nạn Xào Nấu Sử
1 year ago

– Link 1.1 – Minh sử, Liệt truyện đệ nhị: https://tinyurl.com/y2xfojev
– Link 1.2 – Minh Thế Tông thực lục, năm 14: https://tinyurl.com/y46qphp2
– Link 1.3 – Minh Thế Tông thực lục, năm 15: https://tinyurl.com/y5rojce4

Phòng Chống Nạn Xào Nấu Sử
Phòng Chống Nạn Xào Nấu Sử
1 year ago

Mình có kiểm tra check share và các comment. Hình như một số bạn đọc không kĩ. Post này của page không hề nhắc gì tới dự án phim Phượng Khấu dù trực tiếp hay gián tiếp.

Rất mong các bạn nghĩ rằng page anti phim thì có thể đọc lại bài viết và nhìn nhận chính xác hơn.

Cũng rất mong trang Thiên Nam lịch đại hậu phi lên tiếng phản biện để kiến thức đến với bạn đọc được tỏ tường hơn.