Tìm hiểu về Quân đội nhà Thanh trước khi hiện đại hóa

0
402
Ảnh: Trận Liêu Dương (1621), kị binh Mãn Châu tấn công trong khi quân nhà Minh sử dụng ưu thế của họ là hỏa khí để thủ thành trước kỵ binh Mãn Châu nhưng thất bại.

Quân đội nhà Thanh trước khi hiện đại hóa:

Hệ thống Kỳ Binh (Banner Army) của nhà Thanh gần với ý niệm Binh Nông hợp nhất của Trung Hoa nhưng số phận rồi cũng như những chính sách của tiền triều. Dù hệ thống còn tồn tại sau khi chinh phục được nước Tàu, tinh thần thượng võ của họ mất đi sau một thế hệ vì không còn là một tổ chức các chiến sĩ mà chỉ còn là một bọn ăn bám vào giới cầm quyền. Họ đã trở nên thối nát không còn chiến đấu được nữa.

Kỳ binh đời nhà Thanh chia ra làm 3 nhóm : Mãn Châu Bát Kỳ, Mông Cổ Bát Kỳ và Hán Tộc Bát Kỳ. Mãn Châu Bát Kỳ là một tổ chức chính trị quân sự dựa trên căn bản bộ lạc được tập trung sức mạnh để chinh phục Trung Hoa. Các lá cờ khác màu dùng để xác định 8 nhóm quân đội. Tất cả binh lính và cấp chỉ huy đều là người Mãn Châu. Họ được sử dụng vào việc trấn thủ kinh thành và các khu vực chiến lược sau khi người Mãn Châu lên nắm quyền. Các chức vụ trong Kỳ Binh này do thế tập nên cha truyền con nối. Vì thế một đứa trẻ sơ sinh cũng có thể đã là một người lính và được trả lương dẫu rằng sau này chẳng được huấn luyện quân sự và chẳng biết gì về việc binh nhung.

Mông Cổ sáp nhập với Mãn Châu trước khi họ chiếm Trung Hoa. Cũng như Mãn Châu, người Mông Cổ cũng được tổ chức theo bộ lạc trong Bát Kỳ. Họ được người Mãn Châu tín cẩn nhất và được dùng nhiều trong việc chinh phục trung nguyên. Cho nên các Kỳ binh của họ rất có giá trị. Mông Cổ Bát Kỳ vốn dĩ là kỵ binh và vẫn còn giữ được khả năng chiến đấu mà không mấy suy giảm mãi tới cuối thế kỷ 19 khi họ bị đánh bại trong một chiến dịch chống với Niệm Quân (Nian Army) vào thập niên 1860.

Bát Kỳ Hán Tộc là người những Trung Hoa cộng tác với người Mãn Châu từ trước khi họ xâm lấn. Tương tự như Mãn Châu Bát Kỳ gồm những binh sĩ có liên hệ với nhau. Thành thử tuy không tổ chức theo từng sắc dân nhưng trong các đơn vị màu sắc họ hàng tông tộc rất nổi bật. Điều đó khiến cho Hán Kỳ khác với Lục Doanh hay Lục Đội, được tổ chức bao gồm tàn quân nhà Minh và vẫn giữ theo hệ thống cũ của họ.

Sau khi thống nhất Trung Hoa, nguồn chính yếu bổ xung vào Lục Doanh là người Trung Hoa tình nguyện nhập ngũ. Không như Bát Kỳ, Lục Doanh không có tính thế tập. Khi nào người lính già họ sẽ giải ngũ.

Người ta bảo rằng Kỳ Binh, tổng cộng 24 Kỳ, gồm 280,000 người khi họ chiếm Trung Hoa. Đây là quân đội tại trận tiền. Lục Doanh Quân, không chỉ gồm cả binh lính đánh trận mà còn cả lực lượng sai nha giữ việc bảo vệ đường giao thông và bảo đảm an ninh công cộng (tương tự cảnh sát). Có khoảng nửa triệu người trong Lục Doanh vào thời gian đầu triều Thanh.

Những tướng lãnh của Mãn Kỳ đều là người Mãn Châu và các chức vụ chỉ huy cao cấp trong các kỳ khác cũng là người Mãn Châu. Người Trung Hoa chỉ được giữ các cấp chỉ huy thấp trong Hán Kỳ và Lục Doanh.

Cũng như Mãn Kỳ, sau một thời gian quốc gia thanh bình Lục Doanh cũng trở nên thối nát mất khả năng quân sự và kỷ luật. Hơn nữa, lương lính quá thấp nên thường khó khăn tuyển mộ người thay thế các nhiệm vụ bỏ trống và không mấy người tình nguyện. Các sĩ quan thường phải mướn thường dân tạm thời thế chỗ cho đủ người mỗi khi có cấp trên thanh tra và họ giữ lương những chỗ trống đó bỏ túi. Người ta bảo rằng ngay cả những chức vụ chỉ huy trong Lục Doanh cũng mua được. Điều đó khiến cho phẩm chất các cấp tướng lãnh xuống thấp mà còn khuyến khích các hoạt động bất hợp pháp như ăn hối lộ hay hà lạm lương của lính. Đôi khi con số lính ma lên đến 50%.

Một quân đội như thế không thể nào có thể bảo vệ tổ quốc một cách hữu hiệu trong thời chiến. Rủi thay, đó lại chính là tình trạng của lực lượng quân sự Trung Hoa vào giữa thế kỷ 19. Ngoài ra, khí giới và trang bị cũng lỗi thời khiến không thể bù vào sự yếu kém trong chỉ huy và đạo đức.

Vào giữa thế kỷ 19, các nước phương Tây đã bắt đầu dùng các loại võ khí tân tiến. Súng trường, súng liên thanh, súng cối và địa lôi đã được dùng nhiều trong cuộc Nội Chiến của Mỹ thập niên 1860, ngư lôi và thủy lôi đã dùng trong các cuộc hải chiến nhưng dùng giáo, thương, cung tên và đao kiếm vẫn là vũ khí chính của người Trung Hoa trong Chiến tranh Nha phiến. Mười năm sau cuộc Nha phiến Chiến tranh lần thứ nhất, Tương Quân (Xiangjun) của Tăng Quốc Phiên vẫn còn trang bị bằng súng điểu thương và thần công khi chống với quân Thái Bình Thiên Quốc hồi thập niên 1850. Súng trường được du nhập vào Trung Hoa do Thường Thắng Quân của F. T. Ward và C. G. Gordon chỉ huy hồi thập niên 1860 khi họ giúp triều đình chống lại loạn Thái Bình nhưng chưa được trang bị (đại trà) cho quân đội Trung Hoa. Hoài Quân (Huaijun) của Lý Hồng Chương có lẽ là lực lượng đầu tiên dùng các vũ khí mới này vào đầu thập niên 1860. Tuy nhiên, mãi đến thập niên 1880 súng trường mới là vũ khí tiêu chuẩn cho quân đội Trung Hoa.

Lục quân tình trạng bết bát như thế, hải quân thì sao ? Người Trung Hoa trước kia gọi hải quân là thủy binh. Trong khi các nước Tây phương đã dùng máy chạy hơi nước và súng mới để phát triển chiến thuyền thì người Trung Hoa vẫn còn dùng các loại thuyền chèo tay nhỏ mỏng manh hay các loại thuyền buồm trang bị bằng ít súng cũ kỹ. Vũ khí cá nhân của thủy binh cũng không khác gì các Kỳ Binh : đao, cung, giáo vẫn dùng trên các chiến thuyền. Nhiều pháo đài dọc theo duyên hải thiếu tu bổ nên không thể hoạt động được. Theo báo cáo của Vu Khiêm (Yu Qian), Phó Tổng Đốc Lưỡng Giang (Giang Tô -Triết Giang) thì tình trạng thủy binh Triết Giang trước thời Nha Phiến Chiến Tranh rất tồi tệ. Trong một cuộc thao dượt, chỉ có một sĩ quan biết cách sử dụng súng phòng hải, người khác chẳng biết phải dùng bao nhiêu thuốc đạn để bắn nữa. Lý lẽ thông thường cũng cho ta thấy rằng nếu binh sĩ không học cách sử dụng vũ khí, thì dù có tối tân cách mấy cũng thành vô dụng. Khi một giáo sĩ Cơ Đốc Tây Phương và cũng là một thương gia nha phiến nhìn thấy tình trạng đó, ông ta viết lại sau này là ”cả một hạm đội Trung Hoa gồm hơn ngàn chiến thuyền lớn nhỏ cộng lại cũng không đương cự được với một chiến thuyền của ta”. Dẫu rằng có thể ông ta phóng đại sức mạnh của chiến thuyền châu Âu, nhưng xét cũng không xa sự thực là mấy.

Ngoài ra, việc tham nhũng cũng làm cho thủy binh yếu kém đi. Các quan trình rằng các pháo đài duyên hải tại Thiên Tân xây hồi mùa xuân thì đến mùa thu cùng năm đã sập. Binh sĩ sau khi nhận hối lộ của các nhà thầu, chỉ dùng nửa số thuốc đạn thường dùng để bắn thử ngõ hầu thông qua được các cuộc giám sát. Tuy nhiên về sau khi súng được dùng với số thuốc súng đủ lượng, nhiều pháo đài đã sụp đổ.

Bài trướcĐi lấn làn gây tai nạn thảm khốc, tài xế xe đầu kéo bị khởi tố
Bài tiếp theoĐối phương không trả lời tin nhắn thì làm thế nào?
Theo dõi
Thông báo
guest
0 Comments
Inline Feedbacks
View all comments