Vốn FDI vào Việt Nam: Trung Quốc chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ?

0
39

Vốn ᴛʀᴜɴɢ͛ ǫʋốc͛ tăng cả quy mô và tỷ lệ

Số liệu ᴄủᴀ Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) cho thấy, dòng vốn FDI ᴄủᴀ ᴛʀᴜɴɢ͛ ǫʋốc͛ chảy vào Việt Nam tăng qua từng năm, song còn chiếm tỷ trọng tương đối nhỏ so với các nhà đầu tư tới từ Nhật Bản, Hàn Quốc.

Năm 2012, tỷ trọng vốn FDI vào Việt Nam ᴄủᴀ ᴛʀᴜɴɢ͛ ǫʋốc͛ tính cả Hong Kong, ᴛʀᴜɴɢ͛ ǫʋốc͛ đại lục chiếm một phần rất nhỏ, chỉ chiếm 8%, rất khó phân biệt giữa ᴛʀᴜɴɢ͛ ǫʋốc͛ đại lục và Hồng Kông. Đến năm 2019, lượng vốn này chiếm 10% tổng vốn FDI vào Việt Nam. Trong đó, ᴛʀᴜɴɢ͛ ǫʋốc͛ vừa tăng quy mô vừa tăng về tỷ lệ.

Trong 6 tháng đầu năm 2019, lượng vốn FDI từ ᴛʀᴜɴɢ͛ ǫʋốc͛ đổ vào Việt Nam tăng đột biến. Theo đó, Hong Kong dẫn đầu với tổng vốn đầu tư 5,3 tỷ USD và ᴛʀᴜɴɢ͛ ǫʋốc͛ đứng vị trí thứ 3 với tổng vốn đầu tư đăng ký 2,29 tỷ USD.

Theo đáɴʜ giá ᴄủᴀ PGS. TS. Nguyễn Đức Thành – Viện trưởng Viện ɴɢʜɪên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR), ᴛʀᴜɴɢ͛ ǫʋốc͛ chưa phải là “tay chơi” lớn nếu so với các quốc gia khác như Nhật Bản, Hàn Quốc đầu tư vào Việt Nam. Bởi mỗi quốc gia đều có chiến lược đầu tư FDI riêng.

Nhật Bản thường đầu tư vào lĩnh vực năng lượng, Đài Loan (ᴛʀᴜɴɢ͛ ǫʋốc͛) đầu tư vào sản xuất nhựa, Hàn Quốc đầu tư vào điện tử, còn ᴛʀᴜɴɢ͛ ǫʋốc͛ chưa rõ ràng vào lĩnh vực nào cụ thể. Thực tế, ᴛʀᴜɴɢ͛ ǫʋốc͛ chỉ mới xuất khẩu vốn những năm gần đây, từ sau cuộc khủng hoảng kinh tế ᴛʀᴜɴɢ͛ ǫʋốc͛. Cấu trúc ᴄủᴀ dòng vốn này ra nước ngoài đa phần là châu Á, ông Nguyễn Đức Thành cho hay.

Viện trưởng VEPR cho rằng, đầu tư FDI mang tính chất tư nhân, kinh doanh, nên các nhà đầu tư ᴛʀᴜɴɢ͛ ǫʋốc͛ tính toán rất kỹ… ᴛʀᴜɴɢ͛ ǫʋốc͛ chưa có sự khác biệt lớn về công nghệ, mật độ vốn. Chỉ dòng đầu tư vốn đầu tư nước ngoài thì dòng FDI chưa phải quá lớn. Sự hiện diện ᴄủᴀ ᴛʀᴜɴɢ͛ ǫʋốc͛ ở Việt Nam là rõ ràng, nhưng nếu mổ xẻ kỹ thì FDI không phải là vấn đề chính.

Theo ɴɢʜɪên cứu ᴄủᴀ VEPR, đầu tư ᴄủᴀ ᴛʀᴜɴɢ͛ ǫʋốc͛ là một khái niệm rộng, không chỉ gồm các hoạt động do ᴛʀᴜɴɢ͛ ǫʋốc͛ đầu tư mà cần gồm cả các dự án EPC do Việt Nam vay vốn nước khác.

VEPR cũng chỉ ra, các vấn đề chính liên quan đến nhà thầu ᴛʀᴜɴɢ͛ ǫʋốc͛ chính là chậm tiến độ, vấn đề kỹ thuật, tác động môi trường. Cụ thể, nhóm ɴɢʜɪên cứu VEPR dẫn chứng có 25/86 dự án thuỷ điện chậm tiến độ. Trong đó có 8 trường hợp nguyên nhân chậm tiến độ là do nhà thầu và trong số này có 5 trường hợp có sự tham gia nhà thầu ᴛʀᴜɴɢ͛ ǫʋốc͛.

Ngoài ra theo nhóm ɴɢʜɪên cứu VEPR, các khoản vay và dự án thực hiện dưới hình thức EPC gây ra nhiều hệ lụy về dài hạn cho Việt Nam như: Vấn đề tham nhũng, tác động xã hội, phụ thuộc tài chính, vấn đề môi trường, hiệu quả kinh tế.

Cẩn trọng với hợp đồng EPC

Theo TS. Phạm Sỹ Thành, ɢɪáᴍ đốᴄ Chương trình ɴɢʜɪên cứu kinh tế ᴛʀᴜɴɢ͛ ǫʋốc͛, nguồn vốn ᴄủᴀ ᴛʀᴜɴɢ͛ ǫʋốc͛ lãi suất thấp nhưng kèm theo rất nhiều chi phí như phí thực thi hợp đồng, phí đảm bảo.

Một trong những điều kiện khi tiếp cận nguồn vốn vay từ ᴛʀᴜɴɢ͛ ǫʋốc͛ là ký hợp đồng EPC. ɴɢʜɪên cứu về đầu tư ᴄủᴀ ᴛʀᴜɴɢ͛ ǫʋốc͛ dưới hình thức EPC qua trường hợp ᴄủᴀ ngành điện than đã chỉ rõ các bất cập ᴄủᴀ dòng vốn này như chậm tiến độ, gặp trục trặc kỹ thuật và nguy cơ gây ô nhiễm môi trường.

TS. Phạm Sỹ Thành lấy dẫn chứng về nhà máy nhiệt điện Cẩm Phả, đơn vị thi công Songling Power Environmental Equipment ᴄủᴀ ᴛʀᴜɴɢ͛ ǫʋốc͛: Từ khi vận hành vào năm 2011 đến nay, nhà máy xảy ra nhiều sự cố gây hậu quả ɴɢʜɪêm trọng như phải dừng vận hành trong 4 tháng do cánh quạt ᴄủᴀ tổ máy phát điện số 2 bị hỏng. Năm 2016, xảy ra sự cố cháy nổ ở phòng ắc quy và hỏng cánh quạt ᴄủᴀ tổ máy phát điện. Sai sót này khiến nhà máy dừng hoạt động trong 6 tháng, giảm 50% sản lượng điện.

Nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân 2 xây dựng theo hình thức hợp đồng EPC với ᴛʀᴜɴɢ͛ ǫʋốc͛ và gây ra tác động môi trường. Việc vận chuyển chất thải, hệ thống xả thải không đảm bảo. Tổng cục Môi trường đã xử phạt 62.000 USD ᴠɪ ᴘʜạᴍ môi trường. Bên cạnh đó, các nhà máy thủy điện chậm tiến độ cũng đa số do nhà thầu ᴛʀᴜɴɢ͛ ǫʋốc͛ thực hiện, như Thủy điện An Khe – Kanak chậm tiến độ 2 năm. Thủy điện Thượng Kon Tum, nhà thầu ᴛʀᴜɴɢ͛ ǫʋốc͛ thiếu thiện chí, chậm tiến độ thi công buộc chủ đầu tư phải chấm dứt hợp đồng và tố tụng dai dẳng, tốn kém…, ông Thành nêu thực tế.

Trước các vấn đề nêu ra, TS. Phạm Sỹ Thành khuyến nghị: Việt Nam cần tăng cường công tác quản lý đối với các hoạt động đầu tư ᴄủᴀ FDI và hoạt động khác liên quan. Cơ ǫᴜᴀп͛ ᴄʜứᴄ͛ năng cần xem xét kỹ với khoản vay và dự án thực hiện theo hình thức EPC để tránh hệ lụy như phụ thuộc tài chính, hiệu quả kinh tế, môi trường.

Không nên dựa vào cảm tính

Tuy nhiên, khi đề cập câu chuyện vốn ᴛʀᴜɴɢ͛ ǫʋốc͛ rót vào Việt Nam, chuyên gia kinh tế Võ Trí Thành cho rằng, trong quan hệ làm ăn, phải luôn phải đặt lý trí lên hàng đầu.

TS. Võ Trí Thành đặt vấn đề: Vốn ᴛʀᴜɴɢ͛ ǫʋốc͛ không xanh, không sạch lại đắt nhưng sao vẫn rất nhiều nơi chấp nhận dòng vốn này? Do đó, theo ông, khi nhìn vào dòng vốn đầu tư ᴛʀᴜɴɢ͛ ǫʋốc͛ cần nhìn bằng lý trí, bằng thống kê rõ ràng, chứ không dựa vào cảm tính.

“Khi làm ăn với bất kỳ đối tác nào, cũng cần phải có cái đầu lạnh, tỉnh táo. Bảo “ghét” ai nên không hợp tác, không làm ăn với người đó là chưa ổn. Làm việc phải bằng cái đầu, bằng tư duy chứ không chỉ bằng cảm xúc”, ông Thành nhấn mạnh.

Đồng quan điểm, ông Trương Đình Tuyển, nguyên Bộ trưởng Bộ Thương mại (nay là Bộ Công Thương), cho rằng, phải tỉnh táo, công bằng hơn khi đáɴʜ giá về mối quan hệ kinh tế với nhà đầu tư ᴛʀᴜɴɢ͛ ǫʋốc͛.

“Ngay bản thân tôi cũng từng sợ đầu tư ᴛʀᴜɴɢ͛ ǫʋốc͛ vì nghe đồn nhiều quá”, ông Trương Đình Tuyển nói khi đề cập đến thực tế có nhiều định kiến không tốt về dòng vốn ᴛʀᴜɴɢ͛ ǫʋốc͛ thời gian qua.

Theo ông Trương Đình Tuyển, bất kỳ nước nào cũng muốn đẩy công nghệ cũ ra nước ngoài, không riêng các doanh ɴɢʜɪệp ᴛʀᴜɴɢ͛ ǫʋốc͛. “Tuy nhiên quyền chọn dự án, quyền chọn đối tác nhà thầu là ở chúng ta”, ông Tuyển nói.

Theo Sputniknews

Theo dõi
Thông báo
guest
0 Comments
Inline Feedbacks
View all comments