Chúng ta đã học hỏi VN trong quá khứ – thế thì tại sao hiện tại lại không?

0
135

Việt Nam là một đất nước khác hoàn toàn so với thời điểm họ thống nhất gần 44 năm trước. Đại hội dân tộc châu Phi (ANC) đã học hỏi được nhiều từ cuộc chiến tranh giải phóng của Việt Nam, thế thì tại sao không học một số bài học xây dựng về cách cải cách một nền kinh tế? 

“V-Day” 

Đó không phải là chiến thắng ở châu Âu mà là sự kiện ngày 30/4/1975 khi xe tăng số 390 – một xe tăng T-59 của Bắc Việt Nam dưới sự chỉ huy của Đại úy Vũ Đăng Toàn, húc đổ cánh cổng của dinh tổng thống ở Sài Gòn. Bên trong, Tổng thống cuối cùng của Nam Việt Nam – Đại tướng Dương Văn Minh, còn được gọi là “Minh lớn” cùng khoảng 30 thành viên nội các của ông đã đợi để đầu hàng để chấm dứt 30 năm chiến tranh và hơn 100 năm thực dân can thiệp. 

Việt Nam ít nhất đã sẵn sàng để chuyển đổi từ chiến tranh sang hòa bình. Nhưng đấu tranh chưa kết thúc. 

Năm 1989, Việt Nam có GDP bình quân đầu người chỉ 94 USD như là kết quả của các chính sách xã hội chủ nghĩa thất bại khiến loại bỏ động lực sản xuất và dẫn tới đình trệ. Thay vì niềm vui hòa bình, Việt Nam đã trải qua một thời kỳ đen tối với chính phủ giáo điều, tập thể hóa và suýt nạn đói, bị cô lập, cuộc chiến với Campuchia và sau đó với Trung Quốc, những đau khổ và mất mát không ngừng. 

Giờ đây, sau những cải cách rộng rãi gọi là “Đổi Mới”, thu nhập bình quân đã tăng theo cấp số nhân sau 3 thập kỷ lên 2343 USD. 

Sự thay đổi đáng kể đó dựa vào tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh, trung bình hơn 6% một năm kể từ 1992. Điều này đã bắt đầu với thay đổi trong kiểm soát ở các vùng nông thôn. Từ thất bại đổ nát của nông nghiệp tập thể hóa, Việt Nam đã đổi sang chia đất lâu dài cho nông dân để khuyến khích sản xuất. Nhưng các thành phố còn nhận được nhiều hơn thế. Ví du như với hơn 6 triệu người, Sài Gòn ở miền Nam (sau năm 1975 mang tên thành phố Hồ Chí Minh) đã chứng kiến tăng trưởng trung bình 9,6% kể từ 2010. 

Sự chuyển dịch của Việt Nam đã dựa trên hai lựa chọn cơ bản. 

Thứ nhất là khả năng gác lại quá khứ. Điều đó rất đáng kể khi xem xét mức độ tàn phá trong thế kỷ trước, gồm 4 giai đoạn nước ngoài can thiệp (Trung Quốc, Pháp, Nhật và Mỹ), hơn 3 triệu người chết trong chiến tranh. 

Thứ hai, liên quan đến diện mạo hôm nay là sự nhận thức tầm quan trọng của người nước ngoài trong tiến trình này bất chấp trải nghiệm bị thực dân. 

Ở Sài Gòn có Bảo tàng chứng tích chiến tranh. Nó mở ra từ 1975 trong trụ sở cơ quan thông tin cũ của Mỹ. Ban đầu nó có tên là Nhà trưng bày tội ác Mỹ Ngụy. Năm 1990 khi quan hệ với Mỹ cải thiện, nó đổi tên thành Bảo tàng Tội ác chiến tranh xâm lược. Đến 1995, tên của nó được đổi thành tên như hiện nay khi Việt – Mỹ bình thường hóa và Mỹ gỡ bỏ cấm vận. 

Từ 2007, tàu chiến Mỹ đã thường xuyên thăm các cảng Việt Nam. Ngày nay quân đội Việt Nam đã tổ chức các bài tập chung thường xuyên với phía Mỹ. Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ James Mattis đã thăm Việt Nam lần thứ 2 trong năm nay vào tháng 10 và ghé căn cứ không quân Biên Hòa ở gần TP Hồ Chí Minh để tái xác nhận cam kết của Mỹ trong việc tẩy rửa dioxin. 

Cần phải nhớ rằng lực lượng Mỹ đã ném xuống Việt Nam khối lượng bom đạn gấp 2 lần số lượng quân Đồng Minh sử dụng ở cả châu Âu và châu Á trong Thế chiến II. Nhưng người Việt Nam không giữ mãi quá khứ. 

Quán bún chả nơi Tổng thống Mỹ Obama từng đến ăn ở Hà Nội. 


Vai trò của Mỹ trong sự phát triển nhanh của Việt Nam là một trong những đối tác thương mại và đầu tư lớn nhất mặc dù xuất phát điểm thấp trong giữa thập niên 1990 do lệnh cấm vận của Mỹ và nền kinh tế nghèo nàn của Việt Nam. Thương mại Việt – Mỹ đạt tổng cộng 451 triệu USD năm 1995. Kể từ đó đã gia tăng hàng trăm lần lên 45 tỷ USD khiến Mỹ trở thành đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam. 

ANC đã học hỏi được trong quá khứ của người Việt Nam. 

Năm 1978, đối mặt với cạnh tranh nội bộ từ Phong trào Black Consciousness, Inkatha và Phong trào Sinh viên Nam Phi, Moscow đã khuyên ANC thăm nước Việt Nam mới thống nhất. Ở đây họ có thể học hỏi từ các nhà chiến lược Việt Nam như Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp – “Napoleon đỏ” và phương pháp “chiến tranh nhân dân”. 

Phái đoàn do Chủ tịch ANC Oliver Tambo dẫn đầu đã ở Hà Nội 2 tuần trong tháng 10/1978. Bất chấp sự khác biệt hiển nhiên giữa tình huống ở Nam Phi và Việt Nam, phái đoàn ANC đã ra về với cảm giác “ấn tượng sâu sắc với phương pháp đấu tranh vũ trang dưới lòng đất của Việt Nam, đặc biệt là phối hợp giữa các hoạt động bất hợp pháp với hoạt động quần chúng”. Trong quá trình này họ học được rằng cách mạng “phải đi trên cả hai chân: quân sự và chính trị”. 

Sau khi trở về, báo cáo thay mặt phái đoàn của Slovo gửi một cuộc họp chung của NEC và Ủy ban Cách mạng ở Luanda tháng 12/1978 đã kết luận rằng: “kinh nghiệm Việt Nam chỉ ra rằng chúng ta thiếu sót một số mặt và thu hút sự chú ý vào các mặt quan trọng sống còn mà chúng ta có xu hướng bỏ bê”. 

Hội nghị Luanda đã dẫn tới việc chỉ định một Hội đồng Chiến lược Chính trị – Quân sự. Hội đồng này có nhiệm vụ “đưa ra chiến lược tổng thể về huy động quần chúng”. Điều này đại diện cho đánh giá chính thức đầu tiên về chiến lược của ANC kể từ thời Morogoro năm 1969 và được nuôi dưỡng trong Green Book. 

Green Book cho phép phối hợp rộng rãi hơn giữa các nỗ lực chính trị của ANC, bao gồm tạo ra một “mặt trận nhân dân” trong hình thức Phong trào Dân chủ Thống nhất, tăng cường tuyên truyền và chú ý tầm quan trọng của nỗ lực ngoại giao quốc tế. 

Việt Nam đã dạy rằng, nếu ANC muốn thành công trong việc lật đổ chế độ Apartheid (tức chế độ phân biệt chủng tộc), họ phải tập hợp một mặt trận rộng lớn với sự ủng hộ quốc tế, tăng cường bao phủ truyền thông và tập hợp thanh niên địa phương để xây dựng một phong trào chính trị mà có thể trở thành Lực lượng Quốc phòng Nam Phi sau đó. Cuộc đấu tranh vũ trang này có thể phải trở thành thứ yếu để tuyên truyền vũ trang. 

Sau khi trở về từ Việt Nam, ANC đã có một ý thức hệ tư tưởng quyết định từ chủ nghĩa xã hội như một vấn đề “cảnh báo chiến thuật”. 

Tác động chiến lược của chuyến đi của ANC đến Việt Nam trong phương hướng của ANC và lịch sử Nam Phi không phải là phóng đại. Nó có thể coi là một khởi đầu giữa một ANC độc quyền tranh đấu (và chắc chắn không thành công) với một ANC đa chủng tộc và thống nhất. Ít nhất, nó cũng báo hiệu sự bắt đầu của chiến tranh nhân dân, một điểm mà tại đó ANC đã vượt ra ngoài cuộc đấu tranh vũ trang của thập niên 1960 và 1970 trong những quyết định có chiến lược hơn và các nỗ lực chính trị có tổ chức hơn. 

Nếu ANC có thể học từ quá khứ thì hiện tại sao lại không?

Lược dịch từ Daily Maverick (https://www.dailymaverick.co.za/article/2018-11-27-we-learnt-from-vietnam-in-the-past-so-why-not-now/)

Theo MoQuocTe

Bài trướcNổ tại căn cứ quân sự Nga, hai chuyên gia thiệt mạng
Bài tiếp theoThế cửa dưới khiến Nga bất lực trước Thổ Nhĩ Kỳ tại Syria
Theo dõi
Thông báo
guest
0 Góp ý
Inline Feedbacks
View all comments