- Được tài trợ -

Nga và Việt Nam đã duy trì quan hệ kỹ thuật quân sự lâu dài và vững chắc kể từ cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ 2 (tức là cuộc kháng chiến chống Mỹ), khi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nhận được hỗ trợ quân sự đầy đủ từ Liên Xô. Hợp tác kỹ thuật quân sự Việt – Nga tiếp tục hầu như không giảm sút sau sự sụp đổ của Liên Xô: nguồn cung cấp đã phục hồi hầu như ngay lập tức dưới các thỏa thuận thương mại.


Năm 1994, Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã đặt hàng một số lượng nhỏ máy bay chiến đấu Su-27SK/UBK và hợp đồng thứ hai đặt hàng các máy bay này đã được ký vào năm 1995. Nhờ đó Không quân Việt Nam đã triển khai phi đội máy bay chiến đấu thế hệ 4 đầu tiên. 

Việc kinh tế Việt Nam tăng trưởng cũng như sự mở rộng khả năng hải quân và không quân của Trung Quốc đã tác động vào việc xây dựng hợp tác Việt – Nga vào đầu những năm 2000. Năm 2003, Không quân Việt nam đã đặt hàng 4 chiếc máy bay Su-30MK2V đầu tiên. Việt Nam tiếp tục mua những máy bay này sau đó và gần đây không quân của họ sở hữu lực lượng Su-30 đông nhất Đông Nam Á. Ngày nay, chỉ có Ấn Độ, Nga và Trung Quốc là có nhiều loại máy bay này hơn Việt Nam. 

- Được tài trợ -

Năm 2003, Việt Nam cũng đặt hàng hệ thống tên lửa phòng không tầm xa S-300 PMU-1. Những hợp đồng mua bán vũ khí thiết bị hải quân cũng mở rộng vào cuối những năm 2000 với việc Hải quân Việt Nam nhận được 6 tàu ngầm diesel điện lớp Kilo. Thương vụ mua vũ khí mới này là một sự kiện bước ngoặt trong lịch sử Hải quân Việt Nam. Việt Nam đã nhận được lực lượng tàu ngầm của mình và lực lượng hải quân vốn dĩ hầu như chỉ có các tàu nhỏ trong quá khứ, đã gia nhập vào xếp hạng các hải quân hiện đại. 

Việt Nam cũng mua vũ khí cho lục quân mà đầu tiên là xe tăng T-90. 

Hợp tác song phương nhằm chuyển giao một danh mục rộng các vũ khí và thiết bị quân sự cho mọi lực lượng vũ trang của Việt Nam. Mặc dù Việt Nam vẫn còn khó khăn về nguồn lực nhưng mua sắm của họ tiếp tục mở rộng nhờ số lượng các hệ thống được đặt hàng và giá trị các hợp đồng của Hà Nội. Ban đầu Việt Nam chỉ mua 4 chiếc Su-30MK2V nhưng sau đó mua thêm 8 và rồi 12 chiếc nữa. Giá trị trung bình hợp đồng đã tăng từ 100 triệu USD trong những năm đầu 2000 lên 300 triệu USD những năm giữa 2000 và lên đến 1 tỷ USD khi mua sắm lên cao nhất từ trước tới nay với hợp đồng tàu ngầm. 

Hợp tác kỹ thuật quân sự Việt – Nga là mấu chốt trong quan hệ quân sự lâu dài và truyền thống giữa hai nước và được bổ sung bởi những chính sách đối ngoại hỗ và lợi ích quân sự – chính trị hỗ trợ lẫn nhau giữa Việt Nam và Nga. 

Thêm nữa, còn có một đặc tính phi vật chất là tính tương thích tâm lý của quan hệ đối tác Việt – Nga. Có thể sự tương thích này bắt nguồn từ sự đồng cảm đã bắt đầu trong thập niên 1960 và 1970 trong quá trình hợp tác song phương trong cuộc chiến chống lại Mỹ. Hoặc có lẽ, cả hai quốc gia có một sự tương thích văn hóa nào đó. Yếu tố gần như vô hình này đóng một vai trò quan trọng và đôi khi là vai trò quyết định trong phát triển quan hệ quân sự – kỹ thuật. Các nhà công nghiệp và xuất khẩu vũ khí Nga lưu ý rằng quan hệ với các đối tác Việt Nam của họ là rất dễ chịu.


Nhưng đồng thời cũng sẽ là không đúng nếu nói rằng hợp tác quân sự – kỹ thuật Việt – Nga là hoàn hảo. Sự phát triển khả năng kinh tế và tài chính của Việt Nam cho phép họ đa dạng các nguồn cung cấp vũ khí và để mua nhiều hệ thống phòng thủ của Israel và châu Âu. Hà Nội cũng đang tìm hiểu khả năng mua vũ khí thiết bị Mỹ. Do đó Nga dần mất đi trạng thái gần như độc quyền ở thị trường vũ khí Việt Nam. Ở điểm này, khả năng đặt ra trừng phạt phái sinh chống lại Việt Nam vì nhập khẩu vũ khí Nga theo đạo luật Đối phó đối thủ của Mỹ thông qua trừng phạt (CAATSA) sẽ duy trì một lo ngại tiềm năng nguy hiểm. 

Trong tình huống này, Nga cần cung cấp nhiều chính sách bán hàng linh hoạt trong thị trường Việt Nam, tăng chất lượng bảo đảm và hỗ trợ sau bán hàng cũng như những hoạt động cùng hợp tác sản xuất với ngành công nghiệp non trẻ của Việt Nam. Việc cung cấp các phương tiện chống khủng bố, phòng ngừa tội phạm, thực thi pháp luật, an ninh mạng đưa đến khả năng mở rộng hợp tác song phương thêm nữa. Nói chung, một quan hệ song phương truyền thống vững chắc, một bối cảnh chính trị tích cực và mục tiêu cần nâng cấp quân đội của Việt Nam tạo ra những điều kiện tốt cho sự tiếp tục và thậm chí mở rộng hợp tác kỹ thuật và quân sự giữa Nga và Việt Nam. 

Nguồn: http://valdaiclub.com/a/highlights/russian-vietnamese-military-technical-cooperation/

Theo MoQuocTe

- Được tài trợ -
Bài trướcPAK DA cất cánh lần đầu vào năm 2025
Bài tiếp theoTìm hiểu về xe tăng hạng nặng đa tháp pháo T-35
Cảm ơn các bạn đã ghé thăm website Báo Tinh Hoa, vui lòng để lại bình luận chia sẻ cảm nghĩ của mình về các bài viết.
Theo dõi
Thông báo
guest
0 Góp ý
Inline Feedbacks
View all comments